Đôi mắt

 


1. Mắt hay phản bội người nhìn. Chúng ta bảo mình phải tập trung vào X, nhưng lại liếc đến Y. Cả tiếng giảng bài, bạn chỉ để ý đến cái buộc tóc của giáo viên. "Cho tôi biết cái gì khiến bạn dán mắt vào, tôi sẽ cho biết bạn là ai."

Luôn chỉ có một số nhỏ ngoài kia có thể lọt vào ánh mắt của bạn và luôn có hàng đống thứ bị loại ra. Khi người ta không biết phải nhìn gì, họ nhìn toàn cảnh. (Vì thế, tranh phong cảnh thường được dùng làm hình nền: vì bạn không biết phải nhìn vào đâu, nên bạn đỡ bị sao nhãng).
Khi người ta bị thu hút, họ chỉ nhìn vào một thứ: nó cưỡng bức ánh mắt của bạn. Bạn có thể quay mặt đi, nhưng mắt bạn vẫn hướng về đấy. Khả năng tập trung của chúng ta rất kén chọn: rất ít thứ bắt cóc được ánh mắt của bạn, nhưng một khi đã làm được, bạn không thể thôi chú ý.
Trong một bức ảnh tập thể, thường ta sẽ nhìn thấy khuôn mặt mình đầu tiên, cái thứ hai ta thấy luôn có một sức quyễn rũ bí hiểm, một câu hỏi tại sao lại là nó. Mắt bạn ở đâu, ham muốn của bạn ở đấy.
(Với trẻ con chưa biết nói, theo dõi chuyển động của mắt là cách người ta dự đoán chúng hứng thú với cái gì. Chúng nhìn con búp bê này lâu hơn cho thấy chúng thích nó hơn).
2. Đôi mắt là cánh tay nối dài, là cửa sổ của ham muốn. Bạn không muốn thì bạn rất khó để nhìn. Khổ sở nhất là phải nhìn thứ bạn không muốn nhìn: giống như bị ép ăn, bạn bị ép muốn.
Trẻ con sống rất tự nhiên với ham muốn của mình, vì chúng không bị ép phải nhìn, vì vậy bị ép phải chú ý. Chúng mất hứng thú rất nhanh (bạn đang kể chuyện rồi chúng bỏ đi mất), vì cái gì khiến chúng chú tâm, chúng sẽ quan tâm nó.
Người lớn luôn cố kiểm soát ánh nhìn của mình (Nhìn lên bảng các em! Đừng nhìn xuống chỗ váy!), thay vì lần theo bất cứ đâu ánh mắt dẫn họ tới. Trong mơ, những ham muốn sâu thẳm nhất được tự do tuôn chảy, vì con mắt không ở đó. (Lúc mơ bạn vẫn nhìn thấy mọi thứ mà không phải thông qua mắt. Cảnh quen không tối đen ngòm như khi bạn nhắm mắt lại).
3. Chúng ta thích được sự chú ý (thèm Views nghĩa đen là thèm số lượt Nhìn), nhưng chúng ta không chắc dùng tài sản này để làm gì. Đi thuyết trình, không gì sợ bằng khán giả nhìn đi chỗ khác, nhưng cũng không gì đáng sợ bằng khán giả nhìn chằm chằm vào mình (Các người muốn gì ở tôi).
Cuộc sống của những em bé được tổ chức quanh những ánh nhìn. Nếu không ai nhìn chúng, chúng sẽ khó có thể biết mình tồn tại. Khi người ta nhìn, chúng suy luận, họ phải nhìn một cái gì đó. Khi họ nhìn về phía "mình", hẳn cái gì đó chính là "mình". Ý niệm về sự tồn tại của bản thân bắt đầu được nặn thành hình. (Một cách khác là soi gương).
Người nổi tiếng là người nhận được nhiều sự chú ý, hay chiếm phần lớn số lượng ánh mắt đổ về khi ở giữa đám đông. Cảm giác này phiêu ở chỗ (tất nhiên chỉ nên vừa đủ), nó làm nổi bật cảm giác mình đang sống. Giống như trẻ em, chúng ta cảm thấy sự tồn tại khi càng có nhiều người chứng kiến mình tồn tại. (Cảm giác chết lặng khi đứng trước máy quay chính là cảm giác sự tồn tại này hiện lên quá 'real', quá rõ ràng, quá vướng).
Hãy tưởng tưởng một con búp bê vừa chào đời trong một nhà máy có một triệu con búp bê giống hệt nó. Làm sao nó nhận ra mình là ai, nếu ai cũng giống nó? Chính sự khác biệt của những khuôn mặt người khác làm chúng ta cảm thấy khuôn mặt mình đặc biệt. "Bạn" được tạo ra bởi những người không giống bạn.
Yêu kì lạ ở chỗ, trong khi chúng ta chọn gần như mọi thứ trong đời này bằng mắt (quần áo, nội thất, kiến trúc... nếu không vừa mắt, ham muốn của bạn sẽ cựa quậy), chúng ta lại không chọn người mình yêu chính qua mắt. (Dù truyền thuyết đồn rằng con trai chọn bằng mắt, và con gái chọn qua tai).
Có lẽ, người đó có cái khác (otherness) mà con mắt không thể nhìn xuyên qua. Bạn không thể rời mắt khỏi cô ấy, vì có cái gì ở cô ấy khiến bạn không thể thôi nhìn lại. Có lẽ đó là lý do mà con cáo nói trong Hoàng Tử Bé: "Người ta chỉ nhìn thấy rõ ràng bằng trái tim, cái cốt yếu thì mắt thường không thấy được”.

Nhận xét